Bài số 2: Người Việt nhiều tính Phật –Tam pháp ấn và lịch sử Việt Nam

Tứ bất tử – tứ tượng

1. Đặt vấn đề

Lịch sử Phật giáo là vấn đề rộng lớn và còn nhiều điểm mờ, do thời gian đã quá lâu và còn rất ít văn bản. Ngay cả vấn đề lịch sử Phật giáo tại Việt Nam cũng là vấn đề khó để có thể biết chính xác. Tuy nhiên có những dấu ấn trong tinh thần và văn hóa Việt mà chúng ta có thể coi là ảnh hưởng hoặc tương đồng với Phật pháp. Bài viết này là một nghiên cứu của người học dựa trên những gợi mở từ các bài giảng của thầy Lương Gia Tĩnh và các dữ liệu lịch sử. Trong đó, người Viết đưa ra sự so sánh tương đồng giữa Tứ bất tử – 4 vị Thánh của người Việt mang nhiều ẩn dụ về dấu ấn tư tưởng người Việt với Tam pháp ấn.

2. Tứ bất tử và tam pháp ấn

Trong Phật Pháp, tam pháp ấn là khái niệm trung tâm thể hiện tư tưởng của Đạo Phật.

“Tam pháp ấn là ba khuôn dấu của chánh pháp gồm vô thường, khổ và vô ngã. Ba khuôn dấu hay tính chất này xác định tính chính thống và đích thực của giáo lý đạo Phật nhằm đảm bảo mọi suy tư, ngôn thuyết, diễn giải, thực hành của người Phật tử không vượt ra ngoài mục tiêu giải thoát mà Ðức Thế Tôn đã tuyên thuyết. Mọi giáo lý không có ba khuôn ấn trên đều không phải của đạo Phật.

Trong kinh tạng A Hàm, đôi khi Ðức Phật cũng dạy về Tứ pháp ấn là vô thường, khổ, vô ngã và Niết bàn (Kinh Tăng Nhất A Hàm – phẩm Tăng thượng thứ 23). Tuy nhiên, đấy chỉ là sự triển khai của Tam pháp ấn. Bởi lẽ, Niết bàn chỉ là tên gọi khác của vô ngã như Hòa thượng Thích Thiện Siêu đã khẳng định: “Niết bàn là một cái gì tuyệt đối không dung ngã… Hữu ngã là luân hồi mà vô ngã là Niết bàn” (Vô ngã là Niết bàn, tr.65).

Tứ pháp ấn đôi khi cũng được phát biểu là vô thường, khổ, vô ngã và không (Kinh Tăng Nhất A Hàm – phẩm Thất tà tụ thứ 2). Cũng như trên, “không” vẫn chỉ là một cách nhìn khác về các điều kiện duyên khởi của mọi sự, mọi vật. Một hữu thể được gọi là vô ngã hoặc không vì bản chất của nó là do điều kiện nhân duyên tạo thành. Do vậy, có thể xem vô thường, khổ và vô ngã là một định thức chuẩn mực, tổng quát của Tam pháp ấn.”[1]

Trong văn hóa Việt, tứ bất tử cũng được coi là các vị thần quan trọng hàng đầu chỉ xếp sau các vua Hùng.

Tài liệu xưa nhất về thuật ngữ Tứ bất tử là bản Dư địa chí, in trong bộ Ức Trai di tập.[2] Nguyễn Tông Quai ở thế kỷ XVII là người đầu tiên giải thích thuật ngữ Tứ bất tử, khi ông chú giải điều 32 trong sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi. Lời chú ấy như sau:

“… Người đời Thanh nói: Tản Viên Đại Vương đi từ biển lên núi, Phù Đổng Thiên Vương cưỡi ngựa bay lên không trung, Đồng tử nhà họ Chử gậy nón lên trời; Ninh Sơn (nay là Sài Sơn) Từ Đạo Hạnh in dấu vào đá để đầu thai. Ấy là An Nam Tứ bất tử vậy” [3]

Kiều Oánh Mậu người làng Đường Lâm là nhà học giả cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, trong lời Án sách Tiên phả dịch lục[4] có viết:

“Tên các vị Tứ bất tử của nước ta, người đời Minh cho là: Tản Viên, Phù Đổng, Chử Đồng Tử, Nguyễn Minh Không. Đúng là như vậy. Vì bấy giờ Tiên chúa (Liễu Hạnh) chưa giáng sinh nên người đời chưa thể lưu truyền, sách vở chưa thể ghi chép. Nay chép tiếp vào.” [5]

Những thông tin về Tứ bất tử trong thư tịch Hán Nôm, hiện đang lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Các tài liệu tiếng Việt hiện đại về Tứ bất tử thì phong phú hơn và thường khẳng định tứ bất tử gồm: Tản Viên Sơn thần, Phù Đổng Thiên vương, Chử Đồng Tử, và Liễu Hạnh Công chúa. Ví dụ như Nguyễn Tuân (1910-1987), trong thiên truyện Trên đỉnh non Tản in trong tập Vang bóng một thời, có viết:

“… Bốn vị Tứ bất tử nơi thế giới u linh: thánh Tản Viên, chúa Liễu Hạnh, Chử Đồng Tử, và Phù Đổng thiên vương”.

So sánh giữa những ghi chép về Tứ bất tử và về Tam Pháp ấn ta có thể thấy có những điều tương tự đó là Tứ bất tử lúc đầu là 3 sau thêm Liễu Hạnh thành 4, Tam Pháp ấn nếu tính thêm Niết bàn cũng là 4. Tuy nhiên đó chỉ là sự trùng hợp về con số. Tiếp theo người học trình bày về khảo sát cụ thể từng cặp khái niệm để gợi mở một số tư duy về sự tương đồng.

Trước hết về mặt thời gian thì Phật pháp xuất hiện vào khoảng 600 năm trước Tây lịch, thời đại Hùng Vương đã truyền nhiều đời đến khoảng 258 năm trước Tây lịch. Như vậy về mặt thời gian khó có thể nói bên nào có trước.

Sự thách thức của cổ sử (pre history) là có nhiều chi tiết được bổ sung tại nhiều giai đoạn ( tương tự như nhiều lần kết tập của Phật Giáo, đặc biệt với các bộ phái). Nên để tìm ra được những gì bất biến quan trọng là việc sẽ luôn chủ quan, tuy nhiên với người học, ta có thể dựa trên mấy điều sau: – 1. Tên 2. Năng lực của nhân vật 3. Ý nghĩa cốt yếu của câu truyện. Trên cơ sở 3 yếu tố này, người học đã tìm ra được những điểm tương đồng và  chia ra thành 4 cặp như sau: Tản Viên – Vô Ngã; Phù Đổng – Vô Thường; Chử Đồng Tử – Khổ; Liễu Hạnh (Nguyễn Minh Không, Từ Đạo Hạnh) – Niết Bàn. Cụ thể như sau

Tản Viên – Vô Ngã:

Theo Lĩnh Nam chính quái thì sự tích Tản Viên như sau:

“Núi Tản Viên ở phía tây kinh thành Thăng Long nước Nam Việt. Núi cao một vạn hai nghìn ba trăm trượng, chu vi chín vạn tám nghìn sáu trăm vạn (?) Ba núi đứng xếp hàng, đỉnh tròn như cái tán cho nên có tên ấy. Theo sách Ai giao châu tự của Đường Tăng thì Đại Vương núi này là Sơn Tinh họ Nguyễn, vô cùng linh ứng. Khi hạn hán, lúc lụt lội cầu đảo để phòng tai trừ hoạn lập tức có ứng nghiệm. Kẻ thờ cúng hết lòng thành kính. Thường thường, vào những ngày quang đãng như có bóng cờ xí thấp thoáng trong hang núi. Dân trong vùng nói rằng đó là Sơn thần hiển hiện. Khi Cao Biền nhà Đường ở An Nam muốn yểm những nơi linh tích bèn mổ bụng con gái chưa chồng mười bảy tuổi, vứt ruột đi, nhồi cỏ bấc vào bụng, mặc áo quần vào rồi đặt ngồi trên ngai tế bằng trâu bò, hễ thấy cử động thì vung kiếm mà chém đầu. Phàm muốn đánh lừa các thần đều dùng thuật đó. Biền đem thuật đó để tiến đại vương núi Tản Viên, thấy Vương cưỡi ngựa trắng ở trên mây nhổ nước bọt vào mà bỏ đi. Biền than rằng: “Linh khí ở phương Nam không thể lường được. Cái vượng khí đời nào hết được!” Sự linh ứng đã hiển hiện ra như vậy đó. Xưa kia đại vương trông thấy phong cảnh núi Tản Viên đẹp đẽ bèn làm một con đường từ bến Bạch Phiên đi lên phía nam núi Tản Viên, qua động An Vệ, tới các ngọn nguồn lạch suối đều dựng điện để nghỉ ngơi. Rồi lại đi qua ria núi đến chỏm núi có mây che thì định cư ở đó. Đôi lúc rong chơi trên sông Tiểu Hoàng Giang xem đánh cá, phàm đi qua các làng xóm đều dựng điện để nghỉ ngơi. Về sau, nhân dân theo dấu vết các điện đó mà lập đền miếu để thờ cúng. Lại theo truyện cũ ở sách Giao Châu ký của Lỗ Công, tương truyền rằng Đại Vương sơn tinh họ Nguyễn, cùng vui ở với loài thủy tộc ở đất Gia Ninh, huyện Phong Châu. Thời vua Chu Noãn Vương, vua Hùng Vương thứ 18 đến ở đất Việt Trì, Châu Phong, lấy quốc hiệu là Văn Lang. Vua có người con gái tên là Mỵ Nương (cháu gái 27 đời của Thần Nông) có sắc đẹp; Thục Vương Phán cầu hôn, nhà vua không bằng lòng, muốn chọn rể hiền. Mấy hôm sau, bỗng thấy hai người, một người xưng là Sơn Tinh, một người xưng là Thủy Tinh đến để cầu hôn. Hùng Vương truyền tỉ thí pháp thuật. Sơn Tinh chỉ núi, núi lở, ra vào trong đá không có gì trở ngại. Thủy Tinh lấy nước phun lên không biến thành mây mưa. Vua nói: “Hai vị đều có phép thần thông, nhưng ta chỉ có một con gái, vậy ai mang sính lễ tới trước, ta khắc gả cho”. Sáng hôm sau, Sơn Tinh mang ngọc quý, vàng bạc sơn cầm, dã thú… các lễ vật đến tiến, vua y cho. Thủy Tinh đến sau, không thấy Mỵ Nương, cả giận đem loài thủy tộc định đánh để cướp lại. Vương lấy lưới sắt ngăn ngang sông huyện Từ Liêm. Thủy Tinh bèn mở một dải sông Tiểu Hoàng Giang từ Lý Nhân ra Hát Giang, vào sông Đà Giang để đánh ập sau lưng núi Tản Viên. Lại mở ngách sông Tiểu Tích Giang hướng về trước núi Tản Viên, đi qua Cam Giá, Xa Lâu, Cổ Hào, Ma Sá ở khoảng ven sông đánh sụt thành cái vũng lớn để mở lối đi cho quân thủy tộc. Thường làm mưa gió mịt mù, dâng nước lên đánh Vương. Dân ở chân núi thấy thế bèn cắm một hàng rào thưa để đón đỡ, đánh trống gõ cối, hò reo để cứu viện. Thấy rơm rác trôi bên ngoài hàng rào bèn bắn, thủy tộc chết biến thành thây ba ba thuồng luồng trôi tắc cả khu sông. Hàng năm vào khoảng tháng bảy tháng tám vẫn thường như vậy. Dân vùng chân núi hay bị gió to nước lớn, lúa má thiệt hại cả. Người đời tương truyền rằng đó là Sơn Tinh và Thủy Tinh tranh nhau lấy Mỵ Nương. Đại Vương được bí quyết trường sinh của thần tiên nên rất hiển linh, đó là vị đệ nhất phúc thần của nước Đại Việt vậy.”

Khi khảo sát truyện này, người học chú ý vào những phần in nghiêng và khảo sát 3 yếu tố, với cách hiểu như sau:

1. Tên gọi: Tản Viên – theo nghĩa của chữ thì là Tản ra và Viên vào, hay là hình tượng trong lý học là âm dương đang chuyển động hay còn là hình của Âm Dương Việt như tại các đền thờ cổ và di sản văn hóa cổ của Việt Nam:

Nếu hiểu Tản Viên (không phải là tên núi) mà là tên của Đệ Nhất Phúc Thần của Việt Nam thì ta hiểu ý nghĩa khác của tên này mà hình tượng Âm Dương Lạc Việt ở trên là miêu tả phù hợp. Ngoài ra có một chi tiết quan trọng nữa đó là, trong dân gian lưu truyền tên tục của Ngài Tản Viên là “Và”, đây là lý do đền thờ quan trọng của Ngài được gọi là đền Và (một lần nữa ta phải bỏ qua sự chấp rằng đây là tên của đồi Và – vì thật khó hiểu khi đền thờ Đệ Nhất Phúc Thần lại lấy tên theo quả đồi, đúng ra phải là ngược lại). Nếu thông tin này là chính xác thì nó lại càng củng cố cho sự tương đồng của Tản Viên và Vô Ngã. Hãy cùng xem xét chuỗi từ sau:

Vả – Va – Vá – Vạ – Và

Theo người học tìm hiểu thì đây là những âm thuần Việt và nó thể hiện một sự tương tác (hành) giữa 2 đối tượng ( tâm và vật; lục căn và lục xứ …), sự tương tác này có thể phân thành 5 loại:

i. Vả: một bên lấn án bên kia

ii. Va: hai bên đối chọi nhau

iii. Vá: một bên nhập vào bên kia cho kết quả tốt

iv. Vạ: một bên nhập vào bên kia cho kết quả xấu

v. Và: hai bên hòa nhập, bỏ đi cái riêng, tạo cái chung

Nếu hiểu theo nghĩa này thì rõ ràng Và chính là sự vô ngã khi không còn cái riêng.

Như vậy nếu xét theo tên gọi, thì bằng hình ảnh hay ngôn ngữ Việt ta có thể thấy sự tương đồng giữa Tản Viên và Vô Ngã.

2. Theo năng lực của nhân vật:

Thứ nhất, Tản Viên là đệ nhất trong Tứ bất tử thể hiện sự quan trọng của hình tượng này.

Thứ hai, từ câu truyện, bỏ qua các chi tiết ta thấy: Đại Vương núi này là Sơn Tinh họ Nguyễn, vô cùng linh ứng. Khi hạn hán, lúc lụt lội cầu đảo để phòng tai trừ hoạn lập tức có ứng nghiệm. Kẻ thờ cúng hết lòng thành kính ( được thể hiện cụ thể ở việc Cao Biền thua cuộc), và Đại Vương được bí quyết trường sinh của thần tiên nên rất hiển linh, đó là vị đệ nhất phúc thần của nước Đại Việt vậy.

Phải chăng nếu Tản Viên là hình tượng của tư tưởng, thì đây phải là tư tưởng qua trọng nhất, có ý nghĩa vĩnh cửu (trường sinh). Tư tưởng Vô Ngã – dấu ấn đặc sắc của Phật Pháp cũng như vậy

3. Ý nghĩa cốt yếu của câu truyện:

Nếu bỏ qua những chi tiết tâm linh, vốn thường xuyên được bổ sung vào các truyền thuyết cổ tương tự như các Bộ Phái tâm linh hóa hình tượng Phật, thì phải chăng ý nghĩa của Tản Viên là nhắc nhở đây là tư tưởng quan trọng nhất của người Việt, tư tưởng âm dương đối ngẫu, của Và – của Vô Ngã.

Tới đây, người học không chủ quan nhưng tin rằng sự tương đồng này rất đáng để ghi nhận. Còn rất nhiều yếu tố khác có thể bàn thêm như việc không rõ thân thể của Tản Viên, đền thờ ngài không bao giờ có tượng … cũng càng thêm củng cố tính Vô Ngã của hình tượng Tản Viên. Và ngay núi Tản Viên cũng cần được trả lại tên Ba Vì vốn trung thực với hình ảnh của nó hơn là cái lọng, và Ba Vì cũng là hình tượng của Ba Ngọn tư tưởng lớn nhất trong vùng Sông Hồng, cái nôi của văn hóa Việt sau thời kỳ Bách Việt. Để đi sâu hơn nữa, sẽ cần một đề tài nghiên cứu lớn hơn.

Phù Đổng – Vô Thường

Theo Lĩnh Nam chính quái thì sự tích Phù Đổng như sau:

Hùng Vương cậy nước mình giàu mạnh, mà chểnh mảng việc triều cận Bắc phương. Vua nhà ân mượn cớ tuần thú sang xâm lược. Hùng Vương nghe tin, triệu tập quần thần hỏi kế công thủ. Có người phương sĩ tâu rằng: sao không cầu Long Vương đưa quân âm lên giúp! Vua nghe lời, bèn lập đàn, bày vàng bạc lụa là lên trên, ăn chay, thắp hương, cầu đảo ba ngày. Trời nổi mưa to gió lớn, bỗng thấy một cụ già cao hơn chín thước, mặt vàng bụng lớn, mày râu bạc trắng, ngồi ở ngã ba đường mà cười nói ca múa. Những người trông thấy biết là kẻ phi thường, mới vào tâu vua. Vua thân hành ra vái chào, rước vào trong đàn. Cụ già không ăn uống cũng không nói năng. Vua nhân hỏi: “Nghe tin quân Bắc sang xâm lược, ta thua được thế nào, ngài có kiến văn xin bảo giúp”. Cụ già ngồi im một lúc, rút thẻ ra bồi, bảo vua rằng: “Ba năm nữa giặc Bắc sẽ sang, phải nghiêm chỉnh khí giới, tinh luyện sĩ binh mà giữ nước, lại phải đi tìm bậc kỳ tài trong thiên hạ, kẻ nào phá được giặc thì phân phong tước ấp, truyền hưởng lâu dài. Nếu được người giỏi, có thể dẹp được giặc vậy”.

Dứt lời, bay lên không mà đi, mới biết đó là Long Quân. Ba năm sau, người biên giới cấp báo có giặc ân tới. Vua làm theo lời cụ già dặn, sai sứ đi khắp các nơi cầu hiền tài. Tới làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, Bắc Ninh, có một phú ông tuổi hơn sáu mươi, sinh được một người con trai vào giữa ngày mồng 7 tháng giêng, ba tuổi còn không biết nói, nằm ngửa không ngồi dậy được. Người mẹ nghe tin sứ giả tới mới nói dỡn rằng: “Sinh được thằng con trai này chỉ biết ăn, không biết đánh giặc để lấy thưởng của triều đình, báo đáp công bú mớm”. Người con nghe thấy mẹ nói, đột nhiên bảo: “Mẹ gọi sứ giả tới đây”. Người mẹ rất lấy làm kinh ngạc, kể lại với hàng xóm. Hàng xóm cả mừng, tức tốc gọi sứ giả tới. Sứ giả hỏi: “Mày là đứa trẻ mới biết nói, mời ta đến làm gì?”.

Đứa trẻ nhỏm dậy bảo sứ giả rằng: “Mau về tâu với vua rèn một ngựa sắt cao mười tám thước, một thanh kiếm sắt dài bảy thước, một roi sắt và một nón sắt. Ta cưỡi ngựa đội nón ra đánh, giặc tất phải kinh bại, vua phải lo gì nữa?”. Sứ giả mừng rỡ vội về tâu vua. Vua vừa kinh vừa mừng nói rằng: “Ta không lo nữa”. Quần thần tâu: “Một người thì làm sao mà đánh bại được giặc?”. Vua nổi giận nói: “Lời nói của Long Quân ngày trước hông phải là ngoa, các quan chớ nghi ngờ gì nữa! Mau đi tìm năm mươi cân sắt luyện thành ngựa, kiếm, roi và nón”. Sứ giả tới gặp, người mẹ sợ hãi cho rằng tai họa đã đến, bèn bảo người con. Con cả cười bảo rằng: “Mẹ hãy đưa nhiều cơm rượu cho tôi ăn, việc đánh giặc mẹ chớ có lo”. Người con lớn lên rất nhanh, ăn uống tốn rất nhiều, người mẹ cung đốn không đủ. Hàng xóm sửa soạn trâu rượu bánh quả rất nhiều mà người con ăn vẫn không no bụng. Vải lụa gấm vóc rất nhiều mà mặc vẫn không kín thân, phải đi lấy hoa lau buộc thêm vào cho kín người. Kíp đến lúc quân nhà ân tới chân núi Trâu Sơn ở Vũ Ninh, người con duỗi chân đứng dậy cao hơn mười thước (có chỗ nói là trượng) ngửa mũi hắt hơi liền hơn mười tiếng, rút kiếm thét lớn: “Ta là thiên tướng đây!” rồi đội nón cưỡi ngựa. Ngựa chồm lên, hí dài một tiếng mà phi như bay, nháy máy đã tới trước quân vua, vỗ kiếm đi trước, quan quân đều theo sau, tiến sát đồn giặc. Quân giặc bỏ chạy, còn lại tên nào đều la bái kêu lạy thiên tướng rồi cùng đến hàng phục. ân vương bị chết ở trong trận. Đi đến đất Sóc Sơn huyện Kim Hoa, thiên tướng cởi áo cưỡi ngựa mà lên trời, hôm đó là ngày mồng 9 tháng 4, còn để vết tích ở hòn đá trên núi. Hùng Vương nhớ công ơn đó mới tôn là Phù Đổng Thiên Vương, lập miếu thờ ở nhà cũ trong làng, lại ban cho một ngàn mẫu ruộng, sớm hôm hương lửa. Nhà ân đời đời, 644 năm không dám ra quân. Sau Lý Thái Tổ phong làm Xung Thiên Thần Vương, lập miếu ở làng Phù Đổng cạnh chùa Kiến Sơ, lại tạc tượng ở núi Vệ Linh, xuân thu hai mùa tế lễ. Tới đời vua Thuần Đế nhà Lê, ở xã Phù Lỗ có người con gái tên là Ngô Chi Lan chăm đọc sách, rành văn chương, thơ ca điêu luyện, nhân đi dạo chơi tới núi này có đề bài thơ rằng: Vệ Linh cây cỏ lẫn mây ngàn, Vạn tía muôn hồng rỡ thế gian. Ngựa sắt bay rồi tên vẫn đó, Anh hùng sống mãi với giang san. (Dịch ý)

Khi khảo sát truyện này, người học gặp ít khó khăn hơn truyện Tản Viên, vì toàn bộ hình tượng của Phù Đổng hay còn gọi là Thánh Gióng đều thể hiện rất rõ tính Vô Thường. Ta có thể đi sâu vào 3 yếu tố

1. Tên gọi: Phù Đổng – hiện từ này còn chưa rõ nghĩa, nhưng nếu dùng tên Gióng thì một lần nữa ta thấy sự thuần Việt trong tên gọi (gióng hàng, đòn gióng) và thể hiện sự bất biến trong sự thay đổi. Bởi vì không có gì thẳng tuyệt đối (đường thẳng chỉ tồn tại trong toán học), nên Gióng chính là động tác ta cần định tâm về sự vô thường của vạn vật, của pháp.

2. Theo năng lực của nhân vật: có thể dễ thấy tính vô thường hiển hiện rõ nét trong hình tượng Thánh Gióng, đứa bé 3 tuổi vụt lớn thành thiên tướng, thắng giặc rồi bay về trời. như vậy năng lực của Thánh Gióng là vượt thời gian, vượt không gian, vượt sức mạnh bình thường, và là đệ nhị Tứ bất tử, điều này khẳng định sự quan trọng của hình tượng Gióng – sự định trong sự vô thường.

3. Ý nghĩa cốt yếu của câu truyện: Ý nghĩa lớn nhất chính ở hình tượng đứa bé 3 tuổi vụt lớn thành thiên tướng, thắng giặc rồi bay về trời. Bao nhiêu sự kiện đã xảy ra trong thời gian ngắn như vậy, nếu nhìn về tương đối vận tốc và thời gian (sinh lão tử), dù không gọi là Vô thường, thì không người Việt nào không hiểu sự vô thường đó. Ngoài ra câu truyện còn là sự Vô thường của một quốc gia khi mở đầu “Hùng Vương cậy nước mình giàu mạnh” mà bị xâm lăng, rồi lại thắng giặc.

Tới đây, người học không chủ quan nhưng tin rằng sự tương đồng này rất đáng để ghi nhận và phần nào dễ hiểu hơn hình ảnh Tản Viên, cũng như việc chúng ta hiểu về Vô thường dễ hơn Vô ngã, nhưng để có thắng trí, tuệ trí và liễu trí thì vượt lên vô thường bằng định còn phải hiểu vô ngã bằng tuệ.

Chử Đồng Tử – Khổ

Theo Lĩnh Nam chính quái thì sự tích Chử Đồng Tử như sau:

Hùng Vương truyền tới đời thứ ba thì sinh hạ được người con gái tên là Tiên Dung mỵ nương đến tuổi 18 dung mạo đẹp đẽ, không muốn lấy chồng mà chỉ vui chơi, chu du khắp thiên hạ. Vua cũng không cấm đoán nàng. Mỗi năm vào khoảng tháng hai tháng ba lại sắm sửa thuyền bè chèo chơi ở ngoài bể, vui quên trở về. Hồi đó ở làng Chử Xá cạnh sông lớn có người dân tên là Chử Vi Vân sinh hạ được Chử Đồng Tử, cha từ con hiếu, nhà gặp hỏa hoạn, của cải sạch không, còn lại một khố vải cha con ra vào thay nhau mà mặc. Kíp tới lúc cha lâm bệnh, bảo con rằng: “Cha chết cứ để trần mà chôn, giữ khố lại cho con”. Con không nỡ làm theo, dùng khố mà liệm bố. Đồng Tử thân thể trần truồng đói rét khổ sở, đứng ở bên sông hễ nhìn thấy có thuyền buôn qua lại thì đứng ở dưới nước mà ăn xin, khi thì câu cá độ thân không ngờ thuyền Tiên Dung xốc tới, chiêng trống nhã nhạc, kẻ hầu người hạ rất đông. Đồng Tử rất kinh sợ. Trên bãi cát có khóm lau sậy, lưa thưa dăm ba cây, Đồng Tử bèn nấp trong đó, bới cát thành lỗ nằm xuống mà phủ cát lên mình. Thoắt sau, Tiên Dung cắm thuyền dạo chơi trên bãi cát, ra lệnh vây màn ở khóm lau mà tắm. Tiên Dung vào màn, cởi áo dội nước, cát trôi mất, trông thấy Đồng Tử. Tiên Dung kinh sợ hồi lâu, thấy là con trai bèn nói: “Ta vốn không muốn lấy chồng, nay lại gặp người này, cùng ở trần với nhau trong một hố, đó chính là do trời xui nên vậy. Người hãy đứng dậy tắm rửa, ta ban cho quần áo mặc rồi cùng ta xuống thuyền mở tiệc ăn mừng”. Người trong thuyền đều cho đó là cuộc giai ngộ xưa nay chưa từng có. Đồng Tử bảo: “Đâu dám như vậy!” Tiên Dung ta thán, ép làm vợ chồng. Đồng Tử cố từ, Tiên Dung nói: “Đây do trời chắp nối, sao cứ chối từ?”. Người theo hầu vội về tâu lại với vua. Hùng Vương nói: “Tiên Dung không thiết tới danh tiết, không màng tới của cải của ta, ngao du bên ngoài, hạ mình lấy kẻ bần nhân, còn mặt mũi nào trông thấy ta nữa”. Tiên Dung nghe thấy, sợ không dám về, bèn cùng Đồng Tử mở bến chợ, lập phố xá, cùng dân buôn bán, dần dần trở thành cái chợ lớn (nay là chợ Thám, còn gọi là chợ Hà Lương). Phú thương ngoại quốc tới buôn bán tấp nập, thờ Tiên Dung, Đồng Tử làm chúa. Có người lái buôn giàu nói rằng: “Quí nhân bỏ một dật vàng ra ngoài bể mua vật quí, sang năm có thể thành mười dật”. Tiên Dung cả mừng bảo Đồng Tử: “Vợ chồng chúng ta do trời tác thành, đồ ăn thức mặc do trời phú cho, nay hãy đem vàng cùng phú thương ra bể buôn bán”. Có núi Quỳnh Viên, trên núi có am nhỏ, bọn lái buôn thường ghé lại đó uống nước. Đồng Tử lên am chơi, có tiểu tăng tên gọi Ngưỡng Quang truyền phép cho Đồng Tử. Đồng Tử lưu học ở đó, giao tiền cho lái buôn mua hàng. Sau lái buôn quay lại am chở Đồng Tử về. Sư tặng Đồng Tử một cây trượng và một chiếc nón mà nói rằng: “Linh thiêng ở những vật này đây”.

Đồng Tử trở về, giảng lại đạo Phật. Tiên Dung bèn giác ngộ, bỏ phố phường, chợ búa, cơ nghiệp, rồi cả hai đều tìm thầy học đạo. Trên đường viễn hành, trời tối mà chưa thấy thôn xá, hai người tạm nghỉ ở giữa đường, cắm trượng che nón mà trú thân. Đến canh ba, thấy hiện ra thành quách, lầu ngọc, điện vàng, đền đài dinh thự, vàng bạc châu báu, giường chiếu chăn màn, tiên đồng ngọc nữ, tướng sĩ thị vệ, la liệt trước mắt. Sáng hôm sau, ai trông thấy cũng kinh lạ, đem hương hoa, ngọc thực tới dâng mà xin làm bề tôi. Có văn võ bách quan chia quân túc vệ, lập thành nước riêng. Hùng Vương nghe tin, cho rằng con gái làm loạn, bèn sai quân tới đánh. Quần thần xin đem quân ra phân nhau chống giữ. Tiên Dung cười mà bảo: “Điều đó ta không muốn làm, do trời định đó thôi, sinh tử tại trời, há đâu dám chống lại cha, chỉ xin thuận theo lẽ chính, mặc cho đao kiếm chém giết”. Lúc đó, dân mới tới đều kinh sợ tản đi, chỉ có dân cũ ở lại. Quan quân tới, đóng trại ở châu Tự Nhiên, còn cách sông lớn thì trời tối không kịp tiến quân. Nửa đêm, gió lớn thổi bay cát nhổ cây, quan quân hỗn loạn. Tiên Dung cùng thủ hạ, thành quách phút chốc bay tản lên trời, đất chỗ đó sụt xuống thành cái chằm lớn. Về sau, dân lập miếu thờ, bốn mùa cúng tế, gọi chằm là chằm Nhất Dạ Trạch (nghĩa là chằm một đêm), gọi bãi là bãi Mạn Trù, gọi chợ là chợ Thám còn gọi là chợ Hà Lương. Sau vua Hậu Lương là Diễn sai Trần Bá Tiên đêm quân xâm lược phương Nam. Lý Nam Đế sai Triệu Quang Phục làm tướng cự địch. Quang Phục đem quân nấp ở chằm. Chằm sâu mà rộng, quân địch vướng mắc, tiến binh rất khó, Quang Phục dùng thuyền độc mộc đột xuất ra đánh cướp lương thực, cầm cự lâu ngày làm cho quân giặc mệt mỏi, trong ba bốn năm không hề đối diện chiến đấu. Bá Tiên than rằng: “Ngày xưa nơi đây là chằm một đêm bay về trời, nay lại là chằm một đêm cướp đoạt người”. Nhân gặp loạn Hầu Cảnh, vua nhà Lương bèn gọi Bá Tiên về, ủy cho tì tướng là Dương Sằn thống lĩnh sĩ tốt, Quang Phục ăn chay lập đàn ở giữa đầm, đốt hương mà cầu đảo, bỗng thấy thần nhân cưỡi rồng bay vào trong đàn mà bảo Quang Phục rằng: “Hiển linh còn đó, ngươi có thể cầu tới cứu trợ để dẹp bằng họa loạn”.

Dứt lời, tháo vuốt rồng trao cho Quang Phục, bảo: “Đem vật này đeo lên mũ đâu mâu có thể khiến giặc bị diệt”. Đoạn bay lên trời mà đi. Quang Phục được vật đó, reo mừng vang động, xông ra đột chiến, quân Lương thua to. Chém Dương Sằn ở trước trận, giặc Lương phải lùi. Quang Phục nghe tin Nam Đế mất, bèn tự lập làm Triệu Việt Vương, xây thành ở Trâu Sơn, huyện Vũ Ninh.

Khi khảo sát truyện này, người học thấy còn dễ dàng hơn truyện Phù Đổng, vì toàn bộ câu truyện toát lên chân lý “Khổ”.

1. Tên gọi: Chử Đồng Tử – tất thảy đều kết thúc, vậy rõ là sự Khổ của nhân sinh

2. Năng lực của nhân vật: Dù vì có hiếu, Chử Đồng Tử vẫn khổ không có đến cái khố, dù là công chúa Tiên Dung vẫn khổ không muốn lấy ai. Dù lấy nhau vẫn khổ, vì Hùng Vương không đồng ý. Dù đi tu vẫn khổ vì thành công lại bị Hùng Vương nghi ngờ. Dù năng lực có cao với cây gậy và cái nón tạo nên thành quách (thành tựu) cũng vẫn khổ vì có thể mất trong một đêm. Là đệ tam tứ bất tử, giống như Khổ, đây không chỉ là vấn nạn của con người mà còn là một chân lý, nó sẽ bất biến như vậy.

3. Ý nghĩa cốt yếu của câu truyện:

Bỏ qua những yếu tố tâm linh, và những chi tiết có thể thêm thắt về sau, ta vẫn dễ dàng nhận thấy nếu chỉ nhớ một điều về câu chuyện này thì đó là cái khố gắn với cái khổ. Hình tượng đi tu cũng là sự tự nhiên để thoát khổ. Vậy thì sự liên tưởng giữa Chử Đồng Tử – Nhất Dạ Trạch và Khổ có lẽ không thể rõ ràng hơn được nữa.

Tới đây, người học không chủ quan nhưng tin rằng sự tương đồng này rất đáng để ghi nhận và phần nào dễ hiểu hơn hình ảnh Tản Viên và cả Thánh Gióng cũng như việc chúng ta hiểu về Khổ gần gũi hơn Vô thường, Vô ngã, nhưng để chính vấn nạn này của con người mới tạo ra Phật Pháp, vì Khổ không chỉ trong Tam pháp ấn mà còn trong Tứ diệu đế.

Liễu Hạnh (Nguyễn Minh Không, Từ Đạo Hạnh) – Niết Bàn

Người học sẽ không đi sâu phân tích về sự tương đồng này, bởi cả 2 phía cặp khái niệm này đều được bổ sung, và sự tương đồng có lẽ là rõ ràng nhất nếu hiểu Niết Bàn là trạng thái giác ngộ.

3. Kết luận

Trong khuôn khổ của một bài thu hoạch một môn học, người học chấp nhận tất cả các rủi ro học thuật khi sử dụng liên tưởng 2 nhóm khái niệm vốn quá cổ xưa và thật khó có thể minh định. Tuy nhiên, khoa học hay Phật pháp, cổ sử hay lịch sử cũng để chúng ta rút ra những suy nghĩ cho riêng mình. Môn học lịch sử Phật pháp đã tạo cảm hứng và đánh thức những liên tưởng này, người học không dám tự nhận là đúng, nên rất mong có dịp được đào sâu nghiên cứu và có dịp được học hỏi trao đổi nhiều hơn nữa về chủ đề Đạo Phật và Văn Hóa Việt. Mặc dù vậy, người học cũng tin tưởng rằng một số những liên tưởng, một số những so sánh, trao đổi tại bài viết này có thể gợi ý cho những hướng nghiên cứu xa hơn nữa, vì nếu từ gốc ta tìm được sự tương đồng thì lần dần lên ngọn chắc cũng trả lời được nhiều câu hỏi cho người Việt, cho Phật tử người Việt. Chẳng hạn như giải thích cho mệnh đề “Người Việt nhiều Phật tính” mà nhiều bậc cao tăng, hiền giả đã từng đặt ra.


[1] PHẬT HỌC ĐẠI CƯƠNG, TS. Thích Vạn Lợi tổng hợp

[2] (VHv.1772/3 q.6) do Nhà in Phúc Khê, in năm Mậu Thìn (1868) niên hiệu Tự Đức. Bản Dư địa chí mà chúng ta hiện có là một công trình nghiên cứu tập thể. Ngoài lời tập chú của Nguyễn Thiên Túng, lời cẩn án của Nguyễn Thiên Tích và lời thông luận của Lý Tử Tấn, Dư địa chí còn có những phần do người các thời sau (cụ thể là người các thế kỷ 16, 17, 18) đã thêm vào và sửa chữa nhiều lần. Trong số họ, có Thư Hiên Nguyễn Tông Quai (1693-1767).

[3] Nguyễn Thư Hiên viết: Thanh nhân xưng Tản Viên Đại Vương chi tự hải vãng sơn; Phù Đổng Thiên Vương chi kỵ mã đằng không; Chử gia Đồng tử chi trượng lạp thăng thiên; Ninh sơn (kim Sài Sơn) Từ Đạo Hạnh chi ấn thạch đầu thai. Vị An Nam Tứ bất tử vân).

[4] (AB.289, tờ 4a), in năm Canh Tuất 1910

[5] Án: Ngã Tứ bất tử chi danh, Minh nhân dĩ Tản Viên, Phù Đổng, Chử Đồng Tử, Nguyễn Minh Không. Đương chi nhiên; thử thời Tiên chúa vị giáng, cố vị cập thế nhân sở truyền, văn hiến khả trung. Kim tục chi.

agi AI artificial-intelligence blog chatgpt Chuyển đổi số chính phủ số Chính phủ điện tử cải cách hành chính dữ liệu education Emergent Giáo dục Hà Nội IT from BIT khoa học Khoa học thông tin Lý học math ngôn ngữ Việt Phật Pháp technology thoi-su trí tuệ nhân tạo trực giác Tâm Hồn tâm linh tôn giáo Tụ trội Vi Diệu Pháp Văn hóa Việt đa trí tuệ

Comments

Bình luận về bài viết này