Năm Quý Mão giải thích tại sao người Việt chọn Mèo chứ không phải Thỏ.

Kính tặng Bố tôi ông N.T.T

Đồng kính tặng ông V.Đ.Đ

Khám phá lý do vì sao người Việt chọn Mèo (Mão) thay vì Thỏ trong 12 con giáp, liên hệ với các nguyên lý Phật học và văn hóa tâm linh Việt Nam. Bài viết phân tích cách Mão phản ánh đặc điểm văn hóa, niềm tin dân gian, và ý nghĩa tinh thần đặc trưng của người Việt.

Để hiểu về Mão Mèo trong 12 con giáp của người Việt, cần đặt đúng vị trí về sự quan trọng của 12 con giáp. Người Việt hầu hết ai cũng nhớ mình tuổi con gì và cũng chỉ cần biết ai tuổi con gì ta cũng đã có những suy đoán nhất định, chưa nói đến những môn Lý học như Tử Vi, Phong Thủy, thì rõ ràng trong tâm thức người Việt, con giáp đóng vai trò quan trọng hàng đầu về một người. Vì vậy luận về 12 con giáp phải được hiểu là luận về một trong những vấn đề gốc của con người. Trên nó có chăng chỉ là những vẫn đề về sự sống, về vũ trụ và về bản thể của vạn vật.

Với tư duy này, tôi rất cẩn trọng trong việc nghĩ về một câu hỏi mà nhiều người đặt ra cũng như nhiều người cố gắng trả lời. Cũng như khi viết về Tứ bất tử, tôi phải suy ngẫm nhiều tháng trời, nghĩ về 12 con giáp cũng chỉ chín muồi sau nhiều năm nghiên cứu. Và chỉ khi chín muồi về 12 con giáp tôi mới giải thích được tại sao người Việt chọn Mèo chứ không phải Thỏ.

Hôm nay mùng 2 Tết Quỹ Mão, ngày đẹp và cũng đặc biệt vì có 2 người tôi đề tặng bài viết này đều là tuổi Mão nên tôi khai bút bằng bài viết này, ý tưởng và nội dung cũng đã chín muồi nhưng ngày Tết còn nhiều việc phải làm nên cho phép tôi thong thả viết dần trong những ngày tới, câu trả lời tôi nghĩ không chỉ thỏa đáng mà còn giúp tư duy và giải nghĩa được nhiều vấn đề khác.

Ngắn gọn thì lời giải của tôi là sự ánh xạ của 12 con giáp lên 12 nhân duyên trong Phật học. Về yếu tố lịch sử, thật khó để biết cái nào có trước vì Phật học được kế thừa từ văn hóa cổ của Ấn Độ và thuyết duyên khởi hoàn toàn có thể là một sự kế thừa. Tuy nhiên văn bản rõ ràng và được giải thích về 12 nhân duyên – 12 trạng thái chuyển đổi của sự sống chỉ có từ văn bản Phật học vì thế ta có thể dùng như một văn bản gốc để đối chiếu.

Để hiểu kỹ hơn về 12 nhân duyên, tôi đã nghiên cứu và viết bài thu hoạch ở đây: Tư duy về mười hai nhân duyên và nguyên lý duyên khởi – Không gian Nguyễn Thế Trung (nguyenthetrung.space) Sau đây là phần tóm tắt:

1. Vô minh (Avijjà): Cách hiểu: Vô Minh là sự thiếu đồng nhất của THỂ với chân lý. Sự không đồng nhất của THẾ với CHÂN LÝ ( CHÂN NHƯ)  tạo ra thế năng và vì thế sinh ra Hành, là một cơ chế liên tục chuyển. Áp dụng với con người: Điểm xuất phát của Con người được gọi là Tâm, khi Tâm này khác biệt với chân lý thì gọi là Tâm Vô Minh hay gọi ngắn là VÔ MINH

2. Hành (Sankhàra): Cách hiểu: Hành là tương tác của CHÂN LÝ với các THỂ khác và của các THỂ khác với nhau, vì thế Vô Minh vốn không là CHÂN LÝ sẽ tương tác với CHÂN LÝ thành ra có Hành. HÀNH đến lượt nó lại tương tác với Vô Minh mà sinh ra THỨC, với con người đó là tri giác. Áp dụng với con người: Áp dụng lăng kính vô minh lên sự vật tạo ra sự sai lệch và đưa đến thế năng khác không và tạo ra ý chí hành động, động lực của thân, miệng và ý của con người ( tương tự là các cơ chế hoạt động khác của muôn vật), giống như chiếc xe để trên dốc sẽ lăn xuống, đó là Hành.

3. Thức (Vinnana): Cách hiểu: Thức là cơ chế để Tâm tiếp nhận được Hành. Sau đó TÂM lại dựa trên Thức mà cố gắng hiểu các thể khác qua hình thức phân loại vì thế tạo ra Danh và Sắc. Áp dụng với con người: Với con người thì tri giác là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý với các vật khác sẽ có các tri giác tương tự để nhận biết được sự chuyển của HÀNH ( với máy là ma sát, là nhiệt độ). Tri giác tiếp nhận tương tác và phản hồi lại để TÂM của THỂ tạo ra Ý. Do sự tiếp nhận tương tác của tri giác vốn không trọn vẹn và TÂM của THỂ Thì VÔ MINH nên Ý được sinh ra không thuần chất và được lưu lại trong THỨC là Danh và Sắc.

4. Danh sắc (Nàmarùpa): Cách hiểu: Danh sắc là dấu ấn của vật lên Tâm của Thể thông qua Thức. Khi THỨC hoạt động thì các đối tượng xung quanh được phân loại thông qua việc đặt tên (DANH) gắn với tính chất thấy được (SẮC) của chúng. Khi Danh sắc được hình thành thì Thức lại chỉ huy 6 căn để tạo ra lục nhập. Cụ thể hơn khi các sắc và danh được hình thành, với 6 căn của con người chúng sẽ dần được phân loại thành 6 ngoại xứ: hình thể, âm thanh, hương vị, mùi vị, xúc chạm và ý tưởng. 6 ngoại xứ này sẽ tương ngộ 6 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi thân và ý) để làm nổi lên các tương tác chủ đạo (dù không hoàn toàn đúng đắn) gọi là Lục Nhập. Áp dụng với con người: Với con người thì sắc là phần vật chất ( vật lý và sinh lý …) được cấu thành để có thể tiếp nhận các SẮC khác, DANH là các hệ quả của tương tác  lưu trên VÔ MINH ( Tâm của THỂ) của người được phân loại qua xúc, tác ý, thọ, tưởng và tư. Ví dụ khi ta đóng hết tri giác mắt, tai, mũi, lưỡi mà để Thân gần lửa thì Xúc là sự tiến gần giữa Thân và Lửa , tác ý là sự nóng được truyền về TÂM,  TÂM tùy theo điều kiện mà thọ ( tiếp nhận) để tạo ra TƯỞNG là Nóng, Lạnh hay Ấm Áp ), Tư duy trên các Tưởng và THỨC dần mang lại sự phân loại về sự vật mà THỂ đang đối diện và đặt tên ( DANH) cho nó là LỬA. Từ đó mỗi khi Tri giác chúng ta tiếp xúc với Sắc của Lửa thì ta gọi tên được đó là Lửa. Sự phân loại này làm cho Tâm thấy Thế giới là Danh và Sắc mà vì thế để cho 6 căn tương tác tạo ra Lục nhập.

5. Lục nhập (Chabbithàna): Cách hiểu: Lục nhập là sự tương tác của sáu căn với 6 ngoại xứ qua cơ chế của Danh và Sắc. Trong thực tế, nếu Thể không là con người mà có các căn khác thì Lục nhập có thể thành số khác thay vì Lục, tuy nhiên 6 căn là cơ chế phổ quát nhất, vì thế Lục nhập được coi là đại diện.  Lục nhập dần trở thành cơ chế lười biếng và có tính ảnh hưởng cao dẫn dắt Tâm để hướng tới sự tiếp xúc.Áp dụng với con người: Khi Thức đã hiểu Thế giới qua Danh và Sắc và để cho Sáu căn tương tác thì tạo ra Lục nhập. Chính vì sự tương tác lục nhập nổi lên mạnh mẽ mà con người sẽ bị chi phối làm cho 6 căn của mình trở nên ồn ào mà hướng Thân nói riêng và Ngũ Uẩn nói chung tạo ra Tiếp xúc.

6. Xúc (Phassa): Cách hiểu: Xúc là sự tiếp xúc trực tiếp của 6 căn với các Thể bên ngoài. Nếu lục nhập là không rõ ràng thì Tiếp xúc củng cố (mặc dù có sai lầm) các Thức về thế giới và tạo ra một cơ chế mới để ghi nhận ngoại xứ vào Tâm gọi là Thọ. Áp dụng với con người: Tiếp xúc được hình thành khi các căn và trần gần nhau trong khoảng cách đủ gần để Thọ có thể hình thành, khoảng cách này sẽ gần hơn khoảng cách giữa Lục Căn và Lục xứ, và có thể gần tới 0. Vì sự tiếp xúc này nên Tâm không cần dùng đến Tưởng và Tư để cảm nhận Sáu trần, mà trực tiếp sử dụng cơ chế Thọ.

7. Thọ (Vedanà):  Cách hiểu: Thọ là cơ chế ghi nhận ngoại xứ vào Tâm nhờ có Xúc, và được phân loại thành 3 loại là tốt, xấu và trung tính. Từ Thọ cảm mà con người bám víu vào Ái, Thủ và Hữu và hình thành nên Tâm Tham Sân Si. Áp dụng với con người: Con người với cấu tạo tri giác có khả năng cảm thọ khi tiếp xúc trực tiếp, nên còn gọi là cảm xúc. Thọ là sự đột phá của Ngũ Uẩn ( Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức) khi tiếp dẫn cái ngoài mình (Sắc) vào tới Tâm, vì thế nó có khả năng vượt qua Tưởng, Hành, Thức để tạo ra các phương thức gắn kết Tâm với Trần mà hình thành lên chuỗi tạo Sinh thông qua Ái –> Thủ –> Hữu –> Sinh.

8. Ái (Tanhà): Cách hiểu: Ái là kết quả của Thọ tốt được phát huy làm cho Ngũ Uẩn rung động tốt mà sinh ra sự dễ chịu của Tâm. Và Tâm lại chỉ đạo Thức và thông qua Lục Nhập mong muốn tiếp xúc nhiều hơn với đối tượng mà sinh ra ái dục. Ái khi phát triển mạnh thì tạo ra sự dẫn nối gắn kết giữa Tâm và Vật tạo ra Thủ. Áp dụng với con người: Thọ một cách tự nhiên sẽ luôn hướng tới Ái, vì Lạc thọ gây ra sự thích thú của Tâm. Mặc dù Xúc có thể tạo ra khổ thọ, nhưng Tâm thông qua Thức sẽ luôn tìm kiếm Lạc thọ và vì thế Thọ thường sinh ra Ái. Ái là cây cầu kết nối Tâm, Lạc Thọ và Trần nên sẽ tạo ra sự bám kết của Tâm vào Vật tạo nên Thủ.

9. Thủ (Upadàna): Cách hiểu: Thủ là sự đeo chặt tâm thức vào một đối tượng do Ái đã dẫn dắt được Thức tạo ra. Thủ cho phép Thể được tác động trực tiếp lên Vật mà tạo ra Hữu. Áp dụng với con người: Thủ do tính chất gắn kết Tâm vào Trần ở mức độ vi tế hơn cả Xúc và thường mang lại các Lạc Thọ do có Tâm Ái vì thế mà Thủ đeo chặt vào Trần, do đeo chặt nên dẫn dắt tâm của Vật (qua Lục nhập của Vật và Xúc của Vật) đến mức có thể tạo ra sự kết hợp tạo ra thành tựu mới gọi là Hữu.

10. Hữu (Bhava): Cách hiểu: Hữu là tương duyên của Thể với Vật để hình thành. Sự hình thành mang lại kết quả là Sinh. Áp dụng với con người: Hữu là sự tương tác trực tiếp của toàn bộ con người với một Vật / Trần khác để tạo ra một kết quả có đủ Ngũ Uẩn mới khác với Ta và Vật / Trần, khi việc này thành công thì đó là Sinh.

11. Sinh:  Cách hiểu: Sinh là kết quả thành công của Hữu, là thành tựu của Hữu. Và vì thế Sinh có sự tác thành của Tâm và các nhân duyên nhưng tự nó là một đối tượng mới. Có Sinh ra thì sẽ có mất đi, mà vì vậy Sinh tạo ra Lão, tử. Áp dụng với con người: Sự sinh của một con người là tương duyên của cha mẹ, nhưng sâu xa thì cũng do duyên khởi mà thành. Do các duyên là vô thường ( không hằng thường) nên sự Sinh cũng vô thường, mà sinh ra điểm khởi đầu của con người nên nếu sự Sinh mà vô thường thì Ta là vô ngã, nhưng cái vô ngã này vẫn là kết quả của các nhân duyên nên nó sẽ phải tiếp tục trong hành trình Lão tử trước khi trở về.

12. Lão tử: Cách hiểu: Lão tử là sự tiêu mất của Sinh, tiêu mất hết của Sinh thì sẽ trở về với cái gốc đó là Tâm, tuy nhiên do Lão tử chỉ tiêu trừ được Ngũ Uẩn mà chưa tiêu trừ được Vô Minh thì khi quay trở về với Tâm, Vô Minh lại có cơ hội sinh khởi, vì thế mà vòng duyên khởi lại được khởi động tiếp. Áp dụng với con người: Trong hành trình Sinh Lão Tử vốn sinh ra do Lạc Thọ thì Khổ Thọ là điều tất nhiên con người phải nhận thấy vì tính vô thường của các Hành không thể chỉ luôn luôn Lạc Thọ. Chính vì thế để trở về mà không tiêu tan, con người cần làm chủ được cảm thọ của mình để trở về thọ trung tính hoặc dứt hẳn Thọ cảm, nhờ đó mà trả lại cho Thức cơ hội được sử dụng Trí Tuệ mà tạo Tâm bớt vô minh.

Với cách hiểu 12 nhân duyên thực ra là 12 trạng thái chuyển đổi từ ban đầu ( vô minh) đến kết thúc của một hệ thống có tương tác ( sự sống, con người, máy thông minh) thì ta sẽ thấy ngay sự đồng nhất của chúng với 12 con giáp vốn dùng để định danh sự sinh của ( trạng thái ban đầu) của con người. Ta có các cặp sau:

  1. Tí – Vô Minh
  2. Sửu – Hành
  3. Dần – Thức
  4. Mão – Danh Sắc
  5. Thìn – Lục nhập
  6. Tị – Xúc
  7. Ngọ – Thọ
  8. Mùi – Ái
  9. Thân – Thủ
  10. Dậu – Hữu
  11. Tuất – Sinh
  12. Hợi – Lão tử

Tôi sẽ viết dần về các cặp tương xứng này, nhưng tôi tin chỉ bằng một vài trường hợp như Sửu – Hành – và chăn trâu trong Thiền; Mùi – Ái; Hợi – Lão tử; Tí- vô minh; Thân – Thủ chúng ta cũng nhận thấy sự tương ứng chính xác 1-1.

Nay quay lại việc Mão – Mèo- Thỏ.

Người Việt chọn Mão vì cần một hình tượng tương ứng khi Thức gầm lên chuyển trạng thái sang Danh Sắc. Trong các con vật gần gũi với người Việt thì không những Mèo có Danh ( Kêu là gọi tên) mà còn là con vật có Sắc nhất. Mũ Mão cũng có thể mang hình tượng Danh Sắc như vậy. Hơn thế nữa khi các tương tác trừu tượng từ Vô minh chuyển sang cụ thể Hành thì tương tự tương tác trừu tượng Thức cần chuyển sang cụ thể Danh sắc, và nếu Hổ là Thức thì Danh Sắc phải là tiểu hổ. Vì thế người chọn Mão – Mèo không phải chỉ vì nhà không có thỏ, mà điều này thể hiện một tầng mức tư duy tuyệt vời hoặc là sự gìn giữ truyền thống nguyên bản.

  • Còn tiếp …

agi AI artificial-intelligence blog chatgpt Chuyển đổi số chính phủ số Chính phủ điện tử cải cách hành chính dữ liệu education Emergent Giáo dục Hà Nội IT from BIT khoa học Khoa học thông tin Lý học math ngôn ngữ Việt Phật Pháp technology thoi-su trí tuệ nhân tạo trực giác Tâm Hồn tâm linh tôn giáo Tụ trội Vi Diệu Pháp Văn hóa Việt đa trí tuệ


Posted

in

,

by

Comments

4 bình luận cho “Năm Quý Mão giải thích tại sao người Việt chọn Mèo chứ không phải Thỏ.”

  1. Ảnh đại diện Nguyễn Đồng
    Nguyễn Đồng

    Anh Trung thân,

    Thật là sâu sắc khi anh ngộ ra điểm tương đồng giữa 12 nhân duyên và 12 con Giáp . Tôi đang suy nghĩ khá nhiều về căn bản của nhận thức (conscience) và 12 nhân duyên. Khi có dịp sẽ trao đổi thêm. Tôi mạo muội viết vài giòng sau đây gửi cho một blog VN để giải thích thêm về nguồn gốc của con Mèo trong văn hóa dân gian:

    “Mười hai con thú trong một giáp là để tượng trưng cho chu kỳ biến hoá của thiên nhiên, có ảnh hưởng đến tính nết con người. Người Việt cổ dùng biểu tượng các con thú sống quây quần trong nền văn minh canh nông lúa gạo để đặt tên tiêu biểu cho các chu kỳ này. Con mèo sống gần với người vì biết bắt chuột. Chuột thường gây thâm thụt một số lớn gạo thóc hàng năm. Chó, ngựa, dê, mèo, trâu nước (water buffalo không phải Ox), heo, gà là những con vật đã được thuần hóa, đóng góp rất lớn trong vào kinh tế làng xã. Các con vật hoang như chuột, hổ, khỉ, rồng, rắn là biểu tượng những ảnh hưởng tự nhiên hoặc đã được thần tượng hoá. Thỏ cũng là con vật gần với người, nhưng tầm quan trọng của con thỏ kém xa các thú khác trong 12 con Giáp vùng Đông Nam Á. Trong những vùng sa mạc khô, thịt thỏ có lẽ quan trọng hơn đối với người.

    Nobel prize năm nay về y khoa cho thấy thuyết di truyền ủng hộ giả thuyết con người phát xuất từ Phi Châu. Một trong hai dòng di dân chính là đi theo đường biển để đến Đông Nam Á khoảng 50,000-60,000 năm trước đây. Lúc đó Đông Nam Á còn là bình nguyên Sundaland, nối liền Việt Nam, Mã Lai, và Indonesia vì mực nước biển còn thấp . Diện tích bình nguyên này có thể coi là đồng bằng lớn nhất thế giới, với khí hậu ấm áp và nguồn nước phong phú. Đông Nam Á cổ có đủ điều kiện để làm nơi khởi thủy văn minh lúa nước. Loài người có lẽ thoát khỏi giai đoạn lượm hái để đi vào canh nông trồng trọt lúa nước ở Đông Nam Á trước khi di dân lên miền Nam sông Dương Tử. Văn minh này và nhu cầu thuần hoá các thú vật cần thiết cho canh nông sau này mới truyền lên phương Bắc (phia nam sông Dương tử). Tên cổ của 12 con vật trong một Giáp ắt phải phát xuất từ Đông Nam Á. Vả lại thỏ là thố theo tiếng Tầu. Từ Thố sang Mão xa lắm. Chúng ta nên có người sửa lại sai lầm trong Google và Wikimedia.

    Đã thích bởi 1 người

    1. Ảnh đại diện nguyenthetrunggmailcom

      Cảm ơn anh đã cho ý kiến, hoàn toàn đồng ý với anh cần viết lại Wiki, Google và cả chatgpt

      Thích

  2. […] tôi tìm ra ánh xạ giữa 12 nhân duyên và 12 con giáp ( Năm Quý Mão giải thích tại sao người Việt chọn Mèo chứ không phải Thỏ. – Kh… ) rõ ràng chưa có văn bản nào đưa, điều đó có nghĩa là khả năng nó sai là […]

    Thích

  3. […] Ngày 1.2.2023 sau khi tôi đăng bài https://nguyenthetrung.space/2023/02/01/chatgpt-ve-phat-hoc-va-12-nhan-duyen/ mục tiêu là để mọi người hiểu rõ hơn về https://nguyenthetrung.space/2023/01/26/tu-duy-ve-muoi-hai-nhan-duyen-va-nguyen-ly-duyen-khoi/ để tự tin giải thích tại sao Việt Nam chọn Mèo chứ không phải Thỏ trong 12 con giáp nhân dịp năm Quý Mão như tại bài viết https://nguyenthetrung.space/2023/01/23/nam-quy-mao-giai-thich-tai-sao-nguoi-viet-chon-meo-chu-khong… […]

    Thích

Gửi phản hồi cho Giải mã sức mạnh của siêu AI Chat GPT – Không gian Nguyễn Thế Trung Hủy trả lời