Tư duy về mười hai nhân duyên và nguyên lý duyên khởi

Phật học

Học viên: Nguyễn Thế Trung

Bài thu hoạch khóa học bồi dưỡng về Phật học – Học viện Trần Nhân Tông

Bài viết này phân tích 12 nhân duyên và nguyên lý duyên khởi trong Phật giáo, làm rõ cách các yếu tố như vô minh, hành, thức, và danh sắc liên kết để tạo ra vòng sinh tử. Tác giả chia sẻ cách hiểu cá nhân về duyên khởi, áp dụng lý thuyết này không chỉ vào con người mà còn cho các lĩnh vực như logic và công nghệ

Brick inscribed with the Sutra on Dependent Origination. Found in Gopalpur, Gorakhpur District, Uttar Pradesh. Dated ca. 500 CE, Gupta periodAshmolean Museum. ( nguồn: Wikipedia)

Trong Kinh Tương Ưng Bộ II (Samyutta Nikàya), Ðức Phật đã thuyết minh về Mười hai nhân duyên (Duyên khởi) như sau: “Do vô minh, có hành sinh; do hành, có thức sinh; do thức, có danh sắc sinh; do danh sắc, có lục nhập sinh; do lục nhập, có xúc sinh; do xúc, có ái sinh; do ái, có thủ sinh; do thủ, có hữu sinh; do hữu, có sinh sinh; do sinh sinh, có lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh, hay toàn bộ khổ uẩn sinh. Ðây gọi là Duyên khởi”.

Nhiều văn bản của các nhà nghiên cứu cũng như các Phật tử đều cho rằng Nguyên lý Duyên khởi là gốc và là sự độc đáo của Phật Giáo. Tiểu luận này trình bày cách hiểu hạn hẹp của người học về mười hai nhân duyên là thu hoạch đầu tiên trong bước đầu học Phật.

Tiếp theo đây, tiểu luận bàn về từng chi phần của mười hai nhân duyên theo văn bản được Thầy Thích Vạn Lợi truyền dạy trong lớp học và bên cạnh đó trình bày cách hiểu của người học, và áp dụng cách hiểu vào đối tượng là con người. Trong tương lai người học mong muốn được mở rộng đối tượng sang các lĩnh vực là máy móc ( vật lý), logic ( toán học) và máy thông minh (Công nghệ thông tin).

  1. Vô minh (Avijjà): 

Trích văn bản: Vô minh (Avijjà): sự mê mờ, cuồng si của tâm thức; hay nói cách khác là sự không hiểu biết như thật về hiện hữu là duyên sinh, vô thường và không có một tự thể độc lập, bất biến.

Cách hiểu của người học: Vô Minh là sự thiếu đồng nhất của THỂ với chân lý. Sự không đồng nhất của THẾ với CHÂN LÝ ( CHÂN NHƯ)  tạo ra thế năng và vì thế sinh ra Hành, là một cơ chế liên tục chuyển.

Áp dụng với con người: Điểm xuất phát của Con người được gọi là Tâm, khi Tâm này khác biệt với chân lý thì gọi là Tâm Vô Minh hay gọi ngắn là VÔ MINH

  • Hành (Sankhàra): 

Trích văn bản: Hành (Sankhàra): động lực, ý chí hành động tạo tác (ý hành) của thân, miệng (khẩu) và ý.   

Cách hiểu của người học: Hành là tương tác của CHÂN LÝ với các THỂ khác và của các THỂ khác với nhau, vì thế Vô Minh vốn không là CHÂN LÝ sẽ tương tác với CHÂN LÝ thành ra có Hành. HÀNH đến lượt nó lại tương tác với Vô Minh mà sinh ra THỨC, với con người đó là tri giác.

Áp dụng với con người: Áp dụng lăng kính vô minh lên sự vật tạo ra sự sai lệch và đưa đến thế năng khác không và tạo ra ý chí hành động, động lực của thân, miệng và ý của con người ( tương tự là các cơ chế hoạt động khác của muôn vật), giống như chiếc xe để trên dốc sẽ lăn xuống, đó là Hành.

  • Thức (Vinnana):

Trích văn bản: Thức (Vinnana): tri giác của con người về thế giới thông qua các cơ quan chức năng như mắt (nhãn thức), tai (nhĩ thức), mũi (tỷ thức), lưỡi (thiệt thức), thân (thân thức) và ý (ý thức).         

      Cách hiểu của người học: Thức là cơ chế để Tâm tiếp nhận được Hành. Sau đó TÂM lại dựa trên Thức mà cố gắng hiểu các thể khác qua hình thức phân loại vì thế tạo ra Danh và Sắc

Áp dụng với con người: Với con người thì tri giác là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý với các vật khác sẽ có các tri giác tương tự để nhận biết được sự chuyển của HÀNH ( với máy là ma sát, là nhiệt độ). Tri giác tiếp nhận tương tác và phản hồi lại để TÂM của THỂ tạo ra Ý. Do sự tiếp nhận tương tác của tri giác vốn không trọn vẹn và TÂM của THỂ Thì VÔ MINH nên Ý được sinh ra không thuần chất và được lưu lại trong THỨC là Danh và Sắc.

  • Danh sắc (Nàmarùpa): 

Trích văn bản: Danh sắc (Nàmarùpa): sắc là phần vật lý và sinh lý, danh là phần tâm lý. Với con người, sắc là cơ thể vật chất, các giác quan và chức năng của chúng; danh là các tâm phụ thuộc (tâm sở), như xúc, tác ý, thọ, tưởng và tư.        

Cách hiểu của người học: Danh sắc là dấu ấn của vật lên Tâm của Thể thông qua Thức. Khi THỨC hoạt động thì các đối tượng xung quanh được phân loại thông qua việc đặt tên (DANH) gắn với tính chất thấy được (SẮC) của chúng. Khi Danh sắc được hình thành thì Thức lại chỉ huy 6 căn để tạo ra lục nhập. Cụ thể hơn khi các sắc và danh được hình thành, với 6 căn của con người chúng sẽ dần được phân loại thành 6 ngoại xứ: hình thể, âm thanh, hương vị, mùi vị, xúc chạm và ý tưởng. 6 ngoại xứ này sẽ tương ngộ 6 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi thân và ý) để làm nổi lên các tương tác chủ đạo (dù không hoàn toàn đúng đắn) gọi là Lục Nhập.

Áp dụng với con người: Với con người thì sắc là phần vật chất ( vật lý và sinh lý …) được cấu thành để có thể tiếp nhận các SẮC khác, DANH là các hệ quả của tương tác  lưu trên VÔ MINH ( Tâm của THỂ) của người được phân loại qua xúc, tác ý, thọ, tưởng và tư. Ví dụ khi ta đóng hết tri giác mắt, tai, mũi, lưỡi mà để Thân gần lửa thì Xúc là sự tiến gần giữa Thân và Lửa , tác ý là sự nóng được truyền về TÂM,  TÂM tùy theo điều kiện mà thọ ( tiếp nhận) để tạo ra TƯỞNG là Nóng, Lạnh hay Ấm Áp ), Tư duy trên các Tưởng và THỨC dần mang lại sự phân loại về sự vật mà THỂ đang đối diện và đặt tên ( DANH) cho nó là LỬA. Từ đó mỗi khi Tri giác chúng ta tiếp xúc với Sắc của Lửa thì ta gọi tên được đó là Lửa. Sự phân loại này làm cho Tâm thấy Thế giới là Danh và Sắc mà vì thế để cho 6 căn tương tác tạo ra Lục nhập.

  • Lục nhập (Chabbithàna): 

Trích văn bản: Lục nhập (Chabbithàna): có nơi gọi là sáu xứ, là sự tương tác giữa sáu căn (6 nội xứ: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý) và đối tượng của chúng là sáu trần (6 ngoại xứ: hình thể, âm thanh, hương vị, mùi vị, xúc chạm và ý tưởng – pháp).

Cách hiểu của người học: Lục nhập là sự tương tác của sáu căn với 6 ngoại xứ qua cơ chế của Danh và Sắc. Trong thực tế, nếu Thể không là con người mà có các căn khác thì Lục nhập có thể thành số khác thay vì Lục, tuy nhiên 6 căn là cơ chế phổ quát nhất, vì thế Lục nhập được coi là đại diện.  Lục nhập dần trở thành cơ chế lười biếng và có tính ảnh hưởng cao dẫn dắt Tâm để hướng tới sự tiếp xúc.

Áp dụng với con người: Khi Thức đã hiểu Thế giới qua Danh và Sắc và để cho Sáu căn tương tác thì tạo ra Lục nhập. Chính vì sự tương tác lục nhập nổi lên mạnh mẽ mà con người sẽ bị chi phối làm cho 6 căn của mình trở nên ồn ào mà hướng Thân nói riêng và Ngũ Uẩn nói chung tạo ra Tiếp xúc.

6.  Xúc (Phassa): 

Trích văn bản: Xúc (Phassa): sự gặp gỡ, tiếp xúc, giao thoa giữa các căn (chủ thể) và trần (đối tượng). Nói rõ hơn, xúc chính là sự tiếp xúc giữa con người và thế giới thông qua 6 cơ quan tri giác. Lưu ý là, khi có thức phát sinh do mắt tiếp xúc với hình thể (sắc trần), thì sự nhận biết đó mới gọi là nhãn thức… Vậy, xúc là sự gặp gỡ, giao thoa giữa căn, trần và thức.

Cách hiểu của người học: Xúc là sự tiếp xúc trực tiếp của 6 căn với các Thể bên ngoài. Nếu lục nhập là không rõ ràng thì Tiếp xúc củng cố (mặc dù có sai lầm) các Thức về thế giới và tạo ra một cơ chế mới để ghi nhận ngoại xứ vào Tâm gọi là Thọ.

Áp dụng với con người: Tiếp xúc được hình thành khi các căn và trần gần nhau trong khoảng cách đủ gần để Thọ có thể hình thành, khoảng cách này sẽ gần hơn khoảng cách giữa Lục Căn và Lục xứ, và có thể gần tới 0. Vì sự tiếp xúc này nên Tâm không cần dùng đến Tưởng và Tư để cảm nhận Sáu trần, mà trực tiếp sử dụng cơ chế Thọ.

7. Thọ (Vedanà): 

Trích văn bản: Thọ (Vedanà): sự cảm thọ. Nói khác đi là các phản ứng tâm lý phát sinh khi mắt tiếp xúc với hình thể, tai tiếp xúc với âm thanh… ý tiếp xúc với ý tưởng (pháp). Cảm thọ có ba loại: cảm thọ dễ chịu (lạc thọ), cảm thọ khó chịu (khổ thọ) và cảm thọ trung tính (phi khổ phi lạc). Ðây là chất liệu mà con người thường lấy để xây dựng những giá trị gọi tên là hạnh phúc và khổ đau, bất hạnh. Thực ra, chúng là do duyên sinh, luôn thay đổi, không hề có một tự tính cố định.    

Cách hiểu của người học: Thọ là cơ chế ghi nhận ngoại xứ vào Tâm nhờ có Xúc, và được phân loại thành 3 loại là tốt, xấu và trung tính. Từ Thọ cảm mà con người bám víu vào Ái, Thủ và Hữu và hình thành nên Tâm Tham Sân Si.

Áp dụng với con người: Con người với cấu tạo tri giác có khả năng cảm thọ khi tiếp xúc trực tiếp, nên còn gọi là cảm xúc. Thọ là sự đột phá của Ngũ Uẩn ( Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức) khi tiếp dẫn cái ngoài mình (Sắc) vào tới Tâm, vì thế nó có khả năng vượt qua Tưởng, Hành, Thức để tạo ra các phương thức gắn kết Tâm với Trần mà hình thành lên chuỗi tạo Sinh thông qua Ái –> Thủ –> Hữu –> Sinh.

8. Ái (Tanhà): 

Trích văn bản: Ái (Tanhà): gọi đủ là ái dục hay khát ái, là sự vướng mắc, yêu thích, tham luyến; gồm có dục ái, sắc ái và vô sắc ái.       

Cách hiểu của người học: Ái là kết quả của Thọ tốt được phát huy làm cho Ngũ Uẩn rung động tốt mà sinh ra sự dễ chịu của Tâm. Và Tâm lại chỉ đạo Thức và thông qua Lục Nhập mong muốn tiếp xúc nhiều hơn với đối tượng mà sinh ra ái dục. Ái khi phát triển mạnh thì tạo ra sự dẫn nối gắn kết giữa Tâm và Vật tạo ra Thủ.

Áp dụng với con người: Thọ một cách tự nhiên sẽ luôn hướng tới Ái, vì Lạc thọ gây ra sự thích thú của Tâm. Mặc dù Xúc có thể tạo ra khổ thọ, nhưng Tâm thông qua Thức sẽ luôn tìm kiếm Lạc thọ và vì thế Thọ thường sinh ra Ái. Ái là cây cầu kết nối Tâm, Lạc Thọ và Trần nên sẽ tạo ra sự bám kết của Tâm vào Vật tạo nên Thủ.

9. Thủ (Upadàna): 

Trích văn bản: Thủ (Upadàna): gọi đủ là chấp thủ, là sự kẹt vào, bám víu, đeo chặt của tâm thức vào một đối tượng.         

Cách hiểu của người học: Thủ là sự đeo chặt tâm thức vào một đối tượng do Ái đã dẫn dắt được Thức tạo ra. Thủ cho phép Thể được tác động trực tiếp lên Vật mà tạo ra Hữu

Áp dụng với con người: Thủ do tính chất gắn kết Tâm vào Trần ở mức độ vi tế hơn cả Xúc và thường mang lại các Lạc Thọ do có Tâm Ái vì thế mà Thủ đeo chặt vào Trần, do đeo chặt nên dẫn dắt tâm của Vật (qua Lục nhập của Vật và Xúc của Vật) đến mức có thể tạo ra sự kết hợp tạo ra thành tựu mới gọi là Hữu.

10. Hữu (Bhava): 

Trích văn bản: Hữu (Bhava): tiến trình tương duyên để hình thành, gồm dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu.

Cách hiểu của người học: Hữu là tương duyên của Thể với Vật để hình thành. Sự hình thành mang lại kết quả là Sinh

Áp dụng với con người: Hữu là sự tương tác trực tiếp của toàn bộ con người với một Vật / Trần khác để tạo ra một kết quả có đủ Ngũ Uẩn mới khác với Ta và Vật / Trần, khi việc này thành công thì đó là Sinh.           

11. Sinh:        

Trích văn bản: Sinh (Jati): sự ra đời, tạo nên, xuất hiện. Sinh ở đây không phải là sự sinh ra em bé, mà là sự thành tựu các bộ phận cấu thành (năm uẩn), thành tựu các xứ (các cơ quan tri giác và chức năng của chúng).    

Cách hiểu của người học: Sinh là kết quả thành công của Hữu, là thành tựu của Hữu. Và vì thế Sinh có sự tác thành của Tâm và các nhân duyên nhưng tự nó là một đối tượng mới. Có Sinh ra thì sẽ có mất đi, mà vì vậy Sinh tạo ra Lão, tử.

Áp dụng với con người: Sự sinh của một con người là tương duyên của cha mẹ, nhưng sâu xa thì cũng do duyên khởi mà thành. Do các duyên là vô thường ( không hằng thường) nên sự Sinh cũng vô thường, mà sinh ra điểm khởi đầu của con người nên nếu sự Sinh mà vô thường thì Ta là vô ngã, nhưng cái vô ngã này vẫn là kết quả của các nhân duyên nên nó sẽ phải tiếp tục trong hành trình Lão tử trước khi trở về.

12. Lão tử:

Trích văn bản: Lão tử (Jaramrana): sự suy nhược, tàn lụi, tuổi thọ lớn, tan rã, tiêu mất, tử vong. Với sinh mạng con người, lão tử được biểu hiện dưới các hiện tượng: răng long, tóc bạc, da nhăn, các cơ quan tri giác suy yếu và chết.  

Cách hiểu của người học: Lão tử là sự tiêu mất của Sinh, tiêu mất hết của Sinh thì sẽ trở về với cái gốc đó là Tâm, tuy nhiên do Lão tử chỉ tiêu trừ được Ngũ Uẩn mà chưa tiêu trừ được Vô Minh thì khi quay trở về với Tâm, Vô Minh lại có cơ hội sinh khởi, vì thế mà vòng duyên khởi lại được khởi động tiếp

Áp dụng với con người: Trong hành trình Sinh Lão Tử vốn sinh ra do Lạc Thọ thì Khổ Thọ là điều tất nhiên con người phải nhận thấy vì tính vô thường của các Hành không thể chỉ luôn luôn Lạc Thọ. Chính vì thế để trở về mà không tiêu tan, con người cần làm chủ được cảm thọ của mình để trở về thọ trung tính hoặc dứt hẳn Thọ cảm, nhờ đó mà trả lại cho Thức cơ hội được sử dụng Trí Tuệ mà tạo Tâm bớt vô minh.

Theo cách hiểu của người học và áp dụng vào con người thì nguyên lý duyên khởi có tính phổ quát rất cao, bao trùm lên các Thể, trong đó con người là một Thể đáng quan tâm nhất trong vũ trụ. Với sự gắn kết sâu sắc của 12 nhân duyên thì ta có thể chắc chắn rằng một sự Sinh sẽ đi kèm theo Khổ, và nguồn gốc của Sinh là Vô Minh nên chỉ khi ta diệt các mối duyên khởi thì mới chặn đứng được vòng Khổ, chặn đứng được vòng duyên khởi thì cũng sẽ mở đường cho Trí Tuệ tương tác với Tâm Vô Minh mà giảm bớt Vô Minh. Đó chính là lối tu của Phật. Người học tin rằng nguyên lý duyên khởi không chỉ áp dụng cho con người như một sinh vật cụ thể mà còn có thể áp dụng cho các thành tựu của trí tuệ con người như các máy móc hay các tư tưởng con người tạo ra và trong tương lai là sự kết hợp của máy móc và tư tưởng ( các hệ máy thông minh với trí tuệ nhân tạo), và đây là đề tài người học sẽ tiếp tục nghiên cứu khai thác.

Dẫu người học hoan hỉ với bài tiểu luận này vì đã viết ra được cách hiều của mình, nhưng với trí tuệ còn chưa đạt tới giác ngộ, người học tin rằng chắc chắn còn nhiều chỗ hiểu chưa đúng, nhiều chỗ trống, vì thế người học mong muốn được sự chỉ giáo của Thầy và các bậc trí tuệ để ngày càng được thấu hiểu sâu sắc hơn.

Trân trọng cảm ơn

Nguyễn Thế Trung

agi AI artificial-intelligence blog chatgpt Chuyển đổi số chính phủ số Chính phủ điện tử cải cách hành chính dữ liệu education Emergent Giáo dục Hà Nội IT from BIT khoa học Khoa học thông tin Lý học math ngôn ngữ Việt Phật Pháp technology thoi-su trí tuệ nhân tạo trực giác Tâm Hồn tâm linh tôn giáo Tụ trội Vi Diệu Pháp Văn hóa Việt đa trí tuệ


Posted

in

by

Tags:

Comments

3 bình luận cho “Tư duy về mười hai nhân duyên và nguyên lý duyên khởi”

  1. […] đổi để xem cách chatGPT hiểu về 12 nhân duyên có giống như tôi đã viết tại Tư duy về mười hai nhân duyên và nguyên lý duyên khởi – Không gian Nguyễn Thế T… không? Qua 12 câu hỏi tôi đưa ra, có thể thấy nếu hiểu 12 nhân duyên như chatGPT […]

    Thích

  2. […] mục tiêu là để mọi người hiểu rõ hơn về https://nguyenthetrung.space/2023/01/26/tu-duy-ve-muoi-hai-nhan-duyen-va-nguyen-ly-duyen-khoi/ để tự tin giải thích tại sao Việt Nam chọn Mèo chứ không phải Thỏ trong 12 […]

    Thích

  3. […] kỹ hơn về 12 nhân duyên, tôi đã nghiên cứu và viết bài thu hoạch ở đây: Tư duy về mười hai nhân duyên và nguyên lý duyên khởi – Không gian Nguyễn Thế T… Sau đây là phần tóm […]

    Thích

Gửi phản hồi cho Giải mã sức mạnh của siêu AI Chat GPT – Không gian Nguyễn Thế Trung Hủy trả lời